10 CÁC LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH VĂN HỌC. Cái gọi là thuyết người đọc (reader theory) có nội hàm khá rộng, bao gồm ít. nhất bốn lý thuyết chính: Hiện tượng luận, tường giải học (hermeneutics), thuyết tiếp. nhận (theory of reception), và thuyết hồi ứng của người đọc (reader-response. Nói một cách đơn giản, phê bình văn bản là một phương pháp được sử dụng để xác định điều bản thảo gốc của Kinh Thánh nói. Bản thảo gốc của Kinh Thánh đã bị mất, che giấu, hoặc không còn tồn tại nữa. Những gì chúng ta có là hàng chục ngàn bản sao của những LỚP CAO HỌC – CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VĂN HỌC – KHOÁ 2016 – 01 CÁC TRƯỜNG PHÁI PHÊ BÌNH VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY Giảng viên giảng dạy: PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân Sinh viên thực hiện: Bùi Trọng Thùy Linh TP. HCM, ngày 01 tháng 10 năm 2017 MỤC LỤC 1. Phương pháp và phong cách phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan (Nhìn từ tác phẩm nhà văn hiện đại) Bài viết nghiên cứu phương pháp và phong cách phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan, một trong những nhà lý luận, phê bình hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại. TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 31. 2016 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHONG CÁCH PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA VŨ NGỌC PHAN (NHÌN TỪ Phân tâm học, hay phân tích tâm lý, là phân tích văn bản. Xuất hiện hàng loạt từ mới để chỉ đặc thù của phương pháp này: “phê bình tâm lý”, “phân tích ngữ nghĩa”, “phân tích văn bản”, “cách đọc ngôn ngữ” v.v…. Hình ảnh trong chiếc thảm: cũng như người cash. Giải tríSáchLàng văn Thứ ba, 30/12/2003, 0912 GMT+7 Tóm lại, chủ nghĩa hậu cấu trúc, giải cơ cấu, minh giải học và mỹ học tiếp nhận thuộc phạm trù hậu hiện đại. Tư tưởng chung của nó nhằm chống lại chủ nghĩa duy lý trí, chống lại các tri thức khoa học thực chứng, trước hết là [I style="mso-bidi-font-style normal"]tính phổ quát[/I] được gọi bằng những cái tên như Cái Đại Tự Sự hoặc Cái Được Biểu Đạt Siêu Việt. - Nếu chủ nghĩa cấu trúc dựa trên sự tương ứng hoàn toàn giữa CBĐ và CĐBĐ thì hậu cấu trúc luận lại hoài nghi điều này. Nó cho rằng CBĐ không phải để biểu đạt CĐBĐ mà cho một chuỗi về lý thuyết là bất tận CBĐ khác. Như vậy, phê bình một tác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở việc truy tìm cấu trúc nội tại của tác phẩm đó nữa, mà phải phá vỡ cấu trúc để tìm nghĩa tác phẩm. Lớp nghĩa thứ nhất được hình thành do cấu trúc nội tại của tác phẩm nghĩa tồn tại, còn lớp nghĩa thứ hai do người đọc tiếp xúc với tác phẩm làm nảy sinh, nghĩa kiến tạo. Đồng thời lớp nghĩa này lại làm xuất hiện một vấn đề mới buộc người đọc phải đào sâu tác phẩm để tìm lời giải đáp lớp nghĩa thứ ba ra đời. Cứ như thế, ý nghĩa tác phẩm tức nghĩa kiến tạo không ngừng vận động và hoàn chỉnh. Tác phẩm văn học, như vậy, là một Tác phẩm mở và chỉ thực sự tồn tại qua sự đọc. Jacques Derrida lại đến với hậu cấu trúc luận từ một hướng phê phán khác. Ông cho rằng lý thuyết kí hiệu học của Saussure vốn dựa trên ưu thế của âm so với chữ, và khi nói thì người ta tạo nên một hình dung giả tạo trong mối liên hệ giữa CBĐ và CĐBĐ vì đã không chú ý đến tính ý hướng của ý thức và sự tác động của bối cảnh văn hóa. Bởi vậy, Derrida đề cao vai trò của chữ, văn tự, văn bản. Mỗi cá nhân đọc văn bản một cách khác nhau trong khuôn khổ một ý thức lịch sử nhất định. Tính khách quan, tính tự trị, tính một trung tâm của văn bản, vì thế bị phá vỡ. Văn bản trở thành liên văn bản. Thậm chí, cả thế giới, rốt cuộc, cũng được coi như một văn bản bất tận, vô hạn. Chủ nghĩa hậu cấu trúc hình thành ở Pháp sau tháng 5 năm 1968, nhưng từ những năm 70 về sau đặc biệt phát triển ở Mỹ, nhất là ở Đại học Yale, nơi mà Jacques Derrida thường sang giảng dạy. Vì thế, ở Mỹ đã hình thành hẳn trường phái Yale với những công trình Giải cơ cấu và phê bình 1979 tập hợp những tác phẩm của J. Derrida, Paul de Man, H. Bloom, G. Hartman và Đọc ngụ ý của Baultman, Lý thuyết văn học của So với hậu cấu trúc luận, thì minh giải học và mỹ học tiếp nhận tiến thêm một bước trong đường lối tiếp cận tác phẩm từ người đọc. Thực ra, không phải đến giờ người đọc mới được chú ý. Xã hội học văn học cũng rất chú ý đến người đọc. Ngay từ 1932, Leavis đã có tác phẩm Tưởng tượng và công chúng đọc, rồi những nghiên cứu về lịch sử thị hiếu, lý thuyết tiếp nhận... Nhưng đó là thứ người đọc ở ngoài tác phẩm, người đọc thụ động không tham dự vào sự sáng tạo tác phẩm. Chỉ đến minh giải học và mỹ học tiếp nhận với ảnh hưởng của hiện tượng học thì người đọc mới trở thành một nhân tố bên trong tác phẩm, như một đồng sáng tạo. Và từ đó văn bản được xem như là một Kết cấu vẫy gọi và Hành động đọc được nghiên giải học và mỹ học tiếp nhận được khai mở với nhà triết học Đức Hans Georg Gadamer với tác phẩm Chân lý và phương pháp và sau đó được hai người học trò lớn của ông đưa lên đỉnh cao là Hans Robert Jauss với công trình Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học 1970, Kinh nghiệm thẩm mỹ và minh giải học văn học và Wolfgang Iser với Kết cấu vẫy gọi, Hành động đọc. còn đưa ra một quan niệm mới về lịch sử văn học bao gồm cả lịch sử tiếp nhận văn học, thậm chí chỉ là lịch sử tiếp nhận. Tóm lại, chủ nghĩa hậu cấu trúc, giải cơ cấu, minh giải học và mỹ học tiếp nhận thuộc phạm trù hậu hiện đại. Tư tưởng chung của nó nhằm chống lại chủ nghĩa duy lý trí, chống lại các tri thức khoa học thực chứng, trước hết là tính phổ quát được gọi bằng những cái tên như Cái Đại Tự Sự hoặc Cái Được Biểu Đạt Siêu Việt. Từ đó, nó chống lại cái trung tâm, đặc biệt là lý thuyết một trung tâm duy nhất được coi là tính cấu trúc của cấu trúc và đề cao những hệ thống đa trung tâm hoặc các liên hệ thống. Sự phi trung tâm hóa này là một đặc điểm dân chủ của hậu hiện đại. Sự đề cao văn bản, đúng hơn văn bản mở hay liên văn bản, nên vai trò của người đọc được đề cao như một liên chủ thể. Cái cá nhân đã từng chết trong một cấu trúc tự tại và khép kín nay lại được hồi sinh. Cũng là một đặc điểm khác, tính nhân văn, của hậu hiện đại. Như vậy, hành trình của tư tưởng phê bình văn học đến đây đã trải qua ba giai đoạn 1 tiếp cận tác phẩm từ tác giả, 2 từ chính bản thân tác phẩm và 3 từ người đọc. Và đã trải qua hai lần thay đổi hệ chuẩn paradigme nghiên cứu từ tác giả sang tác phẩm và từ tác phẩm sang độc giả. Mỗi lần thay đổi hệ chuẩn không chỉ đơn thuần là sự thay đổi đối tượng nghiên cứu, mà là thay đổi quan niệm triết học về tác giả, tác phẩm và người đọc, thay đổi cái nhìn thế giới, lý thuyết và các phương pháp tiếp cận tác phẩm. Sự thay đổi này của hệ thống văn học gắn liền với hệ thống văn hóa và qua nó là toàn bộ đời sống xã hội. Phần 1, 2, 3, 4 Tải về bản PDF Tải về bản PDF Bài luận phê bình là bài phân tích các tác phẩm như một cuốn sách, một bộ phim, một bài báo hoặc một bức tranh. Bài phê bình nhằm mục đích phân tích một khía cạnh nào đó của tác phẩm hoặc đưa tác phẩm vào một bối cảnh rộng hơn. Ví dụ, bài phê bình một cuốn sách có thể tập trung vào giọng văn để xác định xem giọng văn đó ảnh hưởng đến ý nghĩa của cả tác phẩm như thế nào. Hoặc một bài bình luận phim có thể tập trung vào sự lặp đi lặp lại của một biểu tượng trong phim. Dù là phê bình khía cạnh nào, mỗi một bài phê bình cần có một luận điểm về tác phẩm và dẫn chứng trong tác phẩm để chứng minh cho phân tích của tác giả.[1] Hãy đọc tiếp để biết cách viết một bài luận phê bình. 1Hiểu rõ yêu cầu của đề bài. Ngay khi giáo viên giao đề, hãy đọc kỹ hướng dẫn và đánh dấu những chỗ bạn chưa hiểu. Yêu cầu giáo viên giải thích đề bài nếu cần.[2] 2 Đọc kỹ tác phẩm. Bài tập viết bài phê bình yêu cầu bạn đánh giá một quyển sách, một bài báo, một bộ phim, một bức tranh hoặc các loại tác phẩm khác. Để có thể đánh giá được các tác phẩm này, bạn cần làm quen với nguyên văn tác phẩm. Nắm rõ tác phẩm bằng cách đọc đi đọc lại. Nếu bạn được yêu cầu viết về những tác phẩm như một bộ phim hay một bức tranh, hãy xem bộ phim đó nhiều lần hoặc ngắm bức tranh đó từ nhiều góc độ và khoảng cách khác nhau. 3 Ghi chép trong khi đọc. Ghi chép trong khi đọc sẽ giúp bạn nhớ được các khía cạnh quan trọng của tác phẩm cũng như giúp bạn suy nghĩ sâu hơn về tác phẩm đó. Hãy nhớ một vài câu hỏi quan trọng trong đầu khi đọc và cố gắng trả lời những câu hỏi đó khi xem lại ghi chép của bạn.[3] Tác phẩm viết về vấn đề gì? Các ý chính nào được nêu ra trong tác phẩm? Trong tác phẩm có điều gì khó hiểu không? Mục đích của tác phẩm là gì? Tác phẩm có đạt được mục đích đó không? Nếu không thì tại sao và như thế nào?[4] Không tóm tắt lại nội dung - bạn phải thuộc nội dung của câu chuyện rồiHãy ghi lại những suy nghĩ dẫn dắt bài luận Ý của tác giả là gì? Điều đó có kết nối với điều gì khác không? 4 Xem lại ghi chép để tìm ra bố cục và xác định vấn đề. Sau khi đã hoàn thành việc đọc và ghi chép về tác phẩm, hãy đọc lại ghi chép để xem tác phẩm được trình bày theo bố cục nào và vấn đề nào là vấn đề nổi bật đối với bạn. Cố gắng tìm ra giải pháp cho một trong các vấn đề bạn tìm được. Ví dụ, bạn có thể thấy rằng Chí Phèo thật tâm có vẻ lương thiện hơn vẻ bề ngoài, hãy đưa ra một phỏng đoán có tính nhân văn xem tại sao lại như vậy. Bạn nên chọn giải pháp có thể dùng để phát triển thành trọng tâm của bài luận, tuy nhiên lưu ý rằng bạn chưa cần phải đưa ra luận điểm chắc chắn ngay lúc này. Khi bạn tiếp tục nghiên cứu tác phẩm, bạn sẽ dần tìm ra được trọng tâm và luận điểm cho bài phê bình của mình.[5] Không tự suy diễn ý đồ của tác giả Nam Cao tạo nên hình tượng một Chí Phèo xấu xí bởi vì...Hãy diễn đạt điều đó thành cách hiểu của riêng bạn Chí Phèo vốn được tạo hình xấu xí một phần để khắc họa nên cuộc sống khốn khổ của hắn, qua đó, làm nổi bật sự khắc nghiệt của xã hội bấy giờ. Quảng cáo 1 Tìm nguồn tham khảo thông tin nếu được yêu cầu. Nếu bạn được yêu cầu dùng các nguồn thông tin để viết bài phê bình, bạn sẽ cần thực hiện một vài nghiên cứu. Đọc kỹ hướng dẫn của đề bài hoặc hỏi giáo viên nếu bạn có thắc mắc về loại nguồn nào là nguồn thích hợp để dùng trong bài. Sách, bài viết trên các tạp chí học thuật và các trang mạng đáng tin là một số nguồn mà bạn có thể dùng. Dùng dữ liệu trong thư viện hơn là tìm kiếm trên mạng internet. Thư viện của trường thường cho phép truy cập vào nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau. Các cơ sở dữ liệu này này cung cấp miễn phí các bài báo và tài nguyên khác mà bạn không thể truy cập được bằng các công cụ tìm kiếm trên mạng. 2 Đánh giá nguồn để xác minh độ tin cậy. Bạn chỉ nên sử dụng những nguồn đáng tin cậy để viết một bài phê bình mang tính học thuật, nếu không bạn sẽ làm mất đi sự tin cậy của mình với vai trò là tác giả. Sử dụng nguồn dữ liệu của thư viện đảm bảo bạn sẽ tìm được nhiều nguồn đáng tin cho bài viết của mình. Dưới đây là một vài điểm bạn cần xem xét để xác minh một nguồn thông tin có đáng tin hay không.[6] Tác giả và minh chứng về tác giả”. Chọn những nguồn có ghi tên tác giả và cung cấp minh chứng về tác giả đó. Minh chứng cần chỉ ra các thông tin như người này có đủ thẩm quyền hay chuyên môn để phát biểu như một chuyên gia về lĩnh vực này không. Ví dụ, bài báo nói về một loại bệnh sẽ đáng tin cậy hơn nếu tác giả là một bác sĩ. Nếu nguồn bạn tìm được không ghi tên tác giả hoặc tác giả không có minh chứng là đủ thẩm quyền thì nguồn đó có thể không đáng tin cậy.[7] Trích dẫn”. Xem xét xem tác giả của nguồn thông tin có tiến hành nghiên cứu kỹ càng về chủ đề hay không. Kiểm tra tiểu sử của các tác giả hoặc tác phẩm được trích dẫn trong nguồn. Nếu tác giả không trích dẫn hoặc chỉ trích dẫn một vài nguồn thì nguồn thông tin này không đáng tin cậy.[8] Định kiến”. Xem xét xem tác giải có trình bày một cách khách quan, hợp lý về chủ đề hay không. Giọng điệu của tác giả có thường ưu tiên cho một mặt của vấn đề không? Lý lẽ tác giả đưa ra có thường xuyên bác bỏ hay coi nhẹ quan điểm hoặc lý lẽ đối lập không? Nếu có, thì nguồn này không phải là một lựa chọn tốt.[9] Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng bộ môn phê bình văn học thường thể hiện quan điểm riêng của người viết chỉ sau một lần đọc; điều này thường không được coi là có thành kiến vì bản chất của lĩnh vực nghiên cứu văn học này vốn là chủ quan.Không đánh giá thấp một tác giả chỉ vì họ ủng hộ một quan điểm nào bám sát luận điểm của họ với con mắt phân tích và tận dụng những luận cứ vững chắc. Ngày xuất bản”. Cân nhắc xem nguồn này có cập nhật các thông tin mới nhất về chủ đề không. Ngày xuất bản đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu về các chủ đề khoa học vì những công nghệ và phương pháp mới có thể đã chứng minh những phát kiến trước đó không hợp lý.[10] Thông tin được cung cấp”. Nếu bạn vẫn nghi ngờ về độ tin cậy của một nguồn nào đó, hãy kiểm tra chéo một số thông tin mà nguồn đó cung cấp với một nguồn mà bạn tin tưởng. Nếu thông tin mà tác giả đưa ra mâu thuẫn với thông tin trong nguồn mà bạn tin tưởng thì nguồn đó không đáng tin cậy để đưa vào bài viết.[11] 3Đọc nghiên cứu. Khi bạn đã thu thập được tất cả các nguồn thông tin cần thiết, bạn cần dành thời gian đọc chúng. Sử dụng phương pháp đọc giống như khi bạn đọc nguyên văn tác phẩm. Đọc các nguồn thông tin bạn được tìm nhiều lần và đảm bảo bạn hiểu chúng một cách thấu đáo. 4 Ghi chép khi đọc. Tô đậm hoặc gạch chân những đoạn văn quan trọng để bạn dễ dàng tìm đọc lại chúng. Khi đọc, bạn cũng nên ghi lại các thông tin đáng chú ý vào muộn cuốn sổ. Ghi rõ bạn đã trích dẫn nguyên văn thông tin từ nguồn nào bằng cách đặt thông tin đó vào trong dấu ngoặc kép, ghi chú các thông tin về nguồn trích dẫn như tên tác giả, tác phẩm và số trang. Không nhấn mạnh một đoạn nào đó chỉ vì nó có vẻ quan trọng hoặc có ý mạnh những đoạn văn củng cố hoặc làm yếu đi luận điểm của bạn. Quảng cáo 1 Xây dựng quan điểm. Khi bạn đã xây dựng được quan điểm của mình về tác phẩm gốc và đã đọc tác phẩm gốc, bạn sẽ sẵn sàng cho việc viết luận điểm.[12] Luận điểm tốt là luận điểm thể hiện được nội dung trọng tâm của bài viết và nêu ra quan điểm của tác giả. Bạn có thể trình bày luận điểm bằng nhiều câu, câu thứ nhất đưa ra quan điểm chung và câu thứ hai thu hẹp lại thành một quan điểm cụ thể hơn.[13] Đảm bảo luận diểm cung cấp đủ thông tin. Hay nói cách khác, tránh nói đơn giản một điều gì đó “tốt” hoặc “hiệu quả”, hãy nói cụ thể vì sao điều đó “tốt” hay “hiệu quả”.[14] Đặt luận điểm ở cuối đoạn văn đầu tiên nếu giáo viên của bạn không yêu cầu đặt luận điểm ở vị trí khác. Cuối đoạn văn đầu tiên là vị trí truyền thống để trình bày luận điểm trong các bài luận học thuật. Ví dụ, đây là một luận điểm có nhiều câu về hiệu quả và mục đích của bộ phim “Max điên cuồng Con đường tử thần” “Rất nhiều bộ phim hành động đều có chung một mô-típ Một nam anh hùng thường đẹp trai, da trắng đi theo niềm tin vào số mệnh và ra lệnh cho những người khác, hoặc là nghe theo anh ta hoặc là chết. “Mad Max Con đường tử thần” đạt được hiệu quả khi đi ngược lại với mô-típ trên. Thay vì đi theo diễn biến quen thuộc, bộ phim đưa vào nhiều anh hùng, trong đó có nhiều nữ anh hùng, thách thức chuẩn mực lâu đời của các bộ phim bom tấn mùa hè trong làng phim Hollywood”.Không đưa ra những thông tin hiển nhiên Mad Max được đạo diễn bởi George Miller hoặc ý kiến chủ quan Mad Max là bộ phim hay nhất năm 2015.[15] Hãy thể hiện luận điểm mà bạn có thể củng cố bằng luận cứ. 2 Lập dàn ý dựa trên ghi chép. Lập dàn ý trước khi viết nháp để tổ chức thông tin hiệu quả hơn. Dàn ý có thể chi tiết hoặc không chi tiết. Càng nhiều chi tiết được đưa vào dàn ý thì bạn càng chuẩn bị tốt cho bài viết của mình.[16] Bạn có thể xây dựng dàn ý sử dụng gạch đầu dòng bằng số la mã, chữ số và chữ cái. Hoặc bạn có thể sử dụng dàn ý dạng sơ đồ tư duy để tìm kiếm và tập trung ý tưởng trước khi hoàn thiện phát triển ý. 3 Mở bài bằng một câu đi thẳng vào chủ đề. Chủ đề nên được giới thiệu luôn ở phần mở đầu. Dùng các ý chính bạn sẽ triển khai trong bài để giúp bạn xác định cần đưa thông tin nào vào phần này. Phần mở bài luôn luôn giới thiệu ý chính và cái nhìn toàn cảnh về nội dung của cả bài. [17] Không mở đầu bằng những cụm từ sáo rỗng như Trong xã hội ngày nay..., Trong suốt lịch sử..., Ai đó đã nói rằng....Hãy mở đầu bằng một thực tế thu hút, một giai thoại hoặc một cách viết gây chú ý nào đó với nội dung liên quan.[18] Một số kỹ thuật viết mở bài khác bao gồm sử dụng một chi tiết cụ thể để gợi lên quan điểm lớn hơn; đặt câu hỏi mà bài luận của bạn đưa ra câu trả lời, hoặc đưa vào một thông tin hấp dẫn.[19] 4 Cung cấp thông tin nền. Cung cấp đủ thông tin nền hay ngữ cảnh để hỗ trợ người đọc. Cân nhắc và cung cấp trong đoạn mở đầu các thông tin mà người đọc cần biết để hiểu được bài luận của bạn. Thông tin nền sẽ rất đa dạng phụ thuộc vào loại tác phẩm mà bạn phê bình.[20] Không tóm tắt lại các phần nội dung không liên quan tới bài viết phần mở bài sao cho phù hợp với độc giả. Một hội nghị gồm các giáo sư dạy môn Anh ngữ sẽ cần ít thông tin bổ sung hơn so với độc giả của các blog trên mạng. Nếu bạn phê bình một cuốn sách, hãy cung cấp tên tác phẩm, tác giả và tóm tắt cốt truyện. Nếu bạn viết về một bộ phim, hãy nói ngắn gọn về nội dung. Nếu bạn viết về một bức họa, hãy miêu tả khái quát. Luôn ghi nhớ thông tin nền phải hướng đến luận điểm. Cung cấp những gì người đọc cần biết để hiểu về chủ đề và thu hẹp thông tin để giới thiệu luận điểm.[21] 5 Dùng các đoạn trong phần thân bài để thảo luận từng phần của tác phẩm. Thay vì nói về nhiều khía cạnh của tác phẩm trong một đoạn văn, mỗi đoạn chỉ nên tập trung vào một phương diện. Mỗi phương diện đều hướng đến làm rõ cho luận điểm.[22] For each body paragraph, you should do the following Đưa ra ý chính ở đầu đoạn văn. Chứng minh ý chính bằng ít nhất một ví dụ từ nguyên văn tác phẩm. Chứng minh ý chính bằng ít nhất một ví dụ từ các nguồn khác. 6 Xây dựng phần kết bài. Kết bài cần làm nổi bật quan điểm bạn trình bày trong bài.[23] Trước khi bạn viết phần kết bài, dành thời gian xâu chuỗi lại các ý bạn đã viết và xác định hướng kết bài tốt nhất. Có nhiều cách kết bài khác nhau mà bạn có thể chọn. Ví dụ, bạn có thể Tóm tắt và nhắc lại ý chính. Nêu ra sự ảnh hưởng của chủ đề tới người đọc. Chủ đề có thể được đưa vào bối cảnh hay nhận xét rộng hơn như thế nào. Kêu gọi hành độnghoặc các nghiên cứu sâu hơn. Nêu ra những vấn đề mới có thể phát triển từ chủ lặp lại các điểm mà bạn đã nêu trước nhắc tới các điểm trước đó và kết nối chúng thành một luận điểm duy nhất. Quảng cáo 1 Nghỉ một vài hôm trước khi đọc lại bản nháp. Việc nghỉ ngơi sẽ giúp não bộ làm việc tốt hơn. Khi bạn quay lại với bản nháp, bạn sẽ có một cái nhìn hoàn toàn mới. Viết bài trước để có thể dành ra vài ngày hoặc thậm chí một tuần để kiểm tra bài trước khi hến hạn. Nếu bạn không chuẩn bị đủ thời gian bạn sẽ dễ mắc những lỗi đơn giản và dễ bị mất điểm. 2 Dành thời gian xem lại và làm rõ các ý khó hiểu. Khi kiểm tra lại bài cần kiểm tra trên nhiều phương diện để đảm bảo người đọc hiểu hết các ý bạn muốn trình bày. Cân nhắc một số câu hỏi sau Ý chính của bạn là gì? Bạn có thể làm rõ ý chính bằng cách nào? Người đọc là ai? Bạn đã cân nhắc nhu cầu và yêu cầu của họ chưa? Mục đích của bạn là gì? Bài luận này đã hoàn thành được mục đích đó chưa? Dẫn chứng bạn đưa ra có thuyết phục không? Bạn có thể củng cố dẫn chứng bằng cách nào? Các phần trong bài có tập trung phát triển luận điểm không? Bạn có thể tăng cường tính liên kết bằng cách nào? Ngôn ngữ và bố cục có gì khó hiểu không? Bạn có thể làm rõ ngôn ngữ và bố cục như thế nào? Bạn có mắc các lỗi về ngữ pháp, dấu câu hay chính tả không? Nếu có thì sửa như thế nào? Người khác có thể có quan điểm nào trái với quan điểm của bạn? Bạn bác bỏ quan điểm của họ trong bài luận bằng cách nào?[24] 3 Hoàn thiện bài viết bằng việc kiểm tra kỹ lỗi chính tả trên bản cứng. Đọc to bài viết để đảm bảo bạn đã sửa hết các lỗi đánh máy, lỗi ngữ pháp, lỗi dùng từ, đặt câu và các lỗi khác. Dù phát hiện ra một lỗi nhỏ cũng nên sửa, in lại trước khi nộp. Nếu bạn nộp bản mềm bài viết qua email, hãy hỏi giáo viên các yêu cầu về định dạng. Bạn có thể lưu dưới dạng tệp PDF để đảm bảo định dạng bài làm không bị mất. Quảng cáo Lời khuyên Nhờ bạn bè, người thân hoặc người quen kiểm tra lỗi chính tả và nhận xét bài viết. Các nhà văn chuyên nghiệp đọc lại bản thảo của họ nhiều lần và bạn cũng nên làm như vậy. Sẽ dễ hơn nếu bạn viết dàn ý cho phần mở bài và quay lại viết hoàn thiện sau khi đã viết các phần tiếp theo. Nếu bạn thấy bí khi viết mở bài, cứ để đó và viết sau. Viết theo cách của bạn. Ví dụ, nhiều người cần viết dàn ý nhưng người khác lại cho rằng dàn ý hạn chế khả năng viết của họ. Hãy tìm ra quy trình viết phù hợp cho riêng bạn. Lưu ý cách dùng từ. Nên dùng đúng những từ bạn biết thay vì để nghe học thuật hơn mà dùng sai những từ bạn không biết. Bắt đầu viết sớm nhất có thể. Bạn sẽ viết bài tốt hơn và ít bị stress khi dành thời gian viết bài đều đặn trong suốt khóa học hơn là viết gấp rút trong một thời gian ngắn. Thu hẹp chủ đề trong quá trình viết. Nhiều sinh viên mắc sai lầm khi chọn chủ đề quá rộng với suy nghĩ là chủ đề rộng sẽ có nhiều thứ để viết. Thực ra thì chọn một chủ đề hẹp sẽ dễ viết hơn. Ví dụ, viết về vấn đề chiến tranh đúng hay sai gần như là không thể. Ngược lại, nếu viết về việc có nên phản đối một cuộc chiến tranh cụ thể không sẽ dễ dàng hơn. Nếu gặp khó khăn với việc xây dựng bố cục, hãy viết dàn ý dựa trên câu chủ đề của các đoạn văn. Trong dàn ý hãy viết một câu miêu tả mối quan hệ giữa các câu chủ đề. Nếu bạn không thể đưa mối quan hệ này một cách nhanh chóng thì các đoạn văn của bạn chưa được sắp xếp đúng trình tự và cần được sắp xếp lại. Bạn sẽ không có đủ thời gian để đọc hết cả mười hay mười hai cuốn sách về chủ đề của mình. Hãy sử dụng mục lục để tìm đọc các chương quan trọng nhất. Cảnh báo Viết bài kiểu nước đến chân mới nhảy sẽ mắc nhiều lỗi diễn đạt và lỗi ngữ pháp. Giáo viên của bạn đã đọc hàng trăm thậm chí hàng nghìn bài luận của sinh viên nên có thể dễ dàng nhận ra bạn có đợi đến phút cuối mới viết bài hay không. Ghi nguồn thông tin mà bạn dùng bao gồm các trích dẫn, số liệu, khái niệm lý thuyết chính xác nhất có thể. Nếu không chắc chắn thì lỗi sai về mặt trích dẫn vẫn có thể chấp nhận được còn không trích dẫn có thể sẽ bị coi là đạo văn. Về bài wikiHow này Trang này đã được đọc lần. Bài viết này đã giúp ích cho bạn? Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi đánh giá về tình hình phê bình văn học theo phong cách học ở nước ta đã có lí khi cho rằng “Phê bình phong cách một tác phẩm hoặc một nhà văn chỉ bằng một vài nhận xét thì đã có nhiều. Nhưng phê bình phong cách học thì hãy còn là một con đường đang được khai phá. Và đi trên con đường này, lữ khách không chỉ bỏ lại đằng sau những các trang bị cũ, mà còn phải học hỏi và sử những công cụ mới. 10 trang Chia sẻ truongthinh92 Lượt xem 1350 Lượt tải 0 Bạn đang xem nội dung tài liệu Phong cách học với nghiên cứu, phê bình văn học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênTạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 172 PHONG CÁCH HỌC VỚI NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGUYỄN HUY PHÒNG* TÓM TẮT Phong cách học là một ngành khoa học nghiên cứu văn chương. Từ lâu nó được biết đến với tư cách là một công cụ phê bình văn học hiệu quả trong việc chỉ ra những nét độc đáo, đặc trưng trong sáng tác của mỗi nhà văn. Tuy nhiên, những vấn đề về nội hàm khái niệm, việc xây dựng những tiêu chí đánh giá theo phong cách học vẫn tồn tại nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau. Việc nhìn nhận lại sự ra đời, phát triển và những ứng dụng của phong cách học đối với phê bình văn học trong và ngoài nước là cần thiết để khẳng định tầm quan trọng của phong cách học đối với đời sống nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay. Từ khóa phong cách học, nghiên cứu phê bình văn học. ABSTRACT Stylistics in literary studies and criticism Stylistics is a science of literary studies. It has long been known as an effective instrument of literary criticism in order to point out the unique and characteristics of a writer's work. However, there have been different views on the connotation of stylistics and development of evaluation criteria for this concept. It is crucial to re-acknowledge the formation, development and application of this science in literary criticism so as to confirm the importance of stylistics in contemporary literary studies and criticism. Keywords stylistics, literary studies and criticism. * ThS, Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 1. Đặt vấn đề Đánh giá về sự phát triển của một nền văn học, có ý kiến cho rằng đó là sự phát triển của các thể loại; ý kiến khác thì khẳng định đó là sự xuất hiện, phát triển của các trường phái, trào lưu, các phương pháp sáng tác...; và một số nhà nghiên cứu thì nhấn mạnh, đề cao sự xuất hiện của các phong cách nghệ thuật lớn. Bởi mỗi nhà văn, bằng tài năng và nỗ lực sáng tạo không ngừng, sẽ tạo cho mình một lối viết, một phong cách riêng trong việc khám phá, phản ánh những vấn đề của hiện thực đời sống. Và chính nhờ sự độc đáo, khác lạ trong cách khám phá, cách nêu và giải quyết vấn đề sẽ tạo ra sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn chương, phản ánh sinh động quy luật, bản chất của nghệ thuật sự khác lạ, không lặp lại. Nghiên cứu, phê bình văn học theo phong cách học là khuynh hướng phê bình xuất hiện sớm và đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, những vấn đề lí luận về phong cách đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu chưa thống nhất, nội hàm khái niệm, phạm vi ứng dụng của phong cách học với thi pháp học, phương pháp sáng tác vẫn còn chưa rõ ràng, khó phân định rạch ròi. Vì thế trong bài viết này, Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 173 chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn tổng quan về phong cách học từ nguồn gốc tên gọi, các ý kiến, quan điểm của các nhà lí luận phê bình xung quanh thuật ngữ, nội hàm khái niệm phong cách đến việc ứng dụng phong cách học trong nghiên cứu văn học trên thế giới và ở Việt Nam...; từ đó thấy được ưu thế, vị trí và vai trò quan trọng của phong cách học trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. 2. Về thuật ngữ phong cách học Thuật ngữ Stylos Hi Lạp, Stylus La Mã, Style Pháp có nghĩa là phong cách học, ra đời sớm nhất ở Hi Lạp - La Mã cổ đại với ý nghĩa ban đầu chỉ nét chữ, bút pháp, nghĩa rộng hơn là chỉ tình yêu ngôn ngữ, nghệ thuật dùng từ. Như vậy trong khái niệm ban đầu, phong cách học thuộc lĩnh vực của ngôn ngữ học. Điều đó được minh chứng trong các công trình nghiên cứu của Arixtôt, Gôraxia, Xixêrôn, Xkaligher... Sang đến thời cận đại, khái niệm phong cách học không chỉ được hiểu trong phạm vi hẹp của ngôn ngữ học mà nội hàm khái niệm đã được mở rộng. Phong cách học được coi là đặc trưng nghệ thuật của nghệ thuật, một phạm trù thẩm mĩ, một hệ thống nghệ thuật biểu hiện hình thức của tác phẩm. Nhà nghiên cứu I. Vinkenman cho rằng “Phong cách học là một phương hướng riêng biệt trong nghệ thuật hình thành ở thời đại nào đó và là một hệ thống xác định của các dấu hiệu nghệ thuật tư tưởng” [3, Cùng với sự phát triển của các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình, của đời sống văn chương nghệ thuật, tới thời hiện đại, phong cách học được coi là một phạm trù thẩm mĩ, một hiện tượng văn học nghệ thuật bao gồm trong đó tất cả sự đa dạng và phức tạp của nó. Phong cách được nghiên cứu trong mối tương quan với tư tưởng, với nhà văn và với thời đại. Có thể nói, xoay quanh khái niệm phong cách học có rất nhiều ý kiến, quan điểm bình luận, đánh giá nhằm xác định rõ nội hàm, phạm vi, đặc trưng của lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng càng nghiên cứu, các nhà khoa học lại càng nhận ra sự đa dạng, phức tạp của đối tượng. Theo Khrapchenko thì “hiện đang tồn tại một số lượng rất lớn những định nghĩa khác nhau về phong cách học văn học. Những định nghĩa này xòe ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách là một phạm trù lịch sử - thẩm mĩ rộng nhất, bao quát và sự nhìn nhận nó như những đặc điểm của những tác phẩm riêng lẻ” [3, Và với quan điểm của mình, ông khẳng định “Phong cách là phương pháp biểu đạt cách chiếm lĩnh đời sống bằng hình tượng, là phương pháp thuyết phục và hấp dẫn người đọc” [3, Như vậy, phong cách ngoài các tính chất khác, nó là biện pháp nghệ thuật, là các thủ pháp thể hiện tư tưởng và hình tượng một cách tiết kiệm, hiệu quả nhất của người nghệ sĩ. Còn theo cách hiểu truyền thống, thì phong cách được hiểu đó là tính cá thể, độc đáo, là một hệ thống các phương tiện biểu đạt, là hình thức nghệ thuật được xem xét trong tính quy luật và các nguyên tắc hài hòa. Trước sự phát triển mạnh mẽ của đời sống văn học cũng như sự xuất hiện của các khuynh hướng, trường phái Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 174 nghiên cứu, phê bình mới, phong cách học cũng đã được khu biệt, nhìn nhận một cách thỏa đáng vơi những tiêu chí nhận diện cụ thể mang tính đặc trưng so với các khuynh hướng phê bình khác. Bằng những lí thuyết về văn học và thực tiễn ứng dụng, các nhà nghiên cứu, phê bình đã dần bổ khuyết và lấp đầy những khoảng trống về lí luận của lĩnh vực nghiên cứu phức tạp nhưng đầy triển vọng như phong cách học. 3. Một số quan điểm của các nhà lí luận phương Tây về phong cách học Nói tới phong cách học, người đọc thường liên tưởng tới lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học, mà bản chất của văn chương là nghệ thuật ngôn từ, lấy ngôn từ làm chất liệu, phương tiện biểu đạt nội dung, hình tượng, tư tưởng. Đúng như M. Gor-ki từng nói “ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”, vì vậy khi đề cập vấn đề phong cách, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dành sự quan tâm đặc biệt đến yếu tố ngôn ngữ, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định phong cách của nhà văn. Vinôgrađốp cho rằng để hiểu được phong cách của nhà văn phải dựa vào sự am hiểu sâu sắc ngôn ngữ của văn học nghệ thuật trong tính đa dạng về thể loại, dựa vào sự hiểu biết các quy luật phát triển đặc điểm phong cách của thể loại “Phong cách đó là một hệ thống sử dụng về mặt mĩ học cá nhân những phương tiện biểu đạt bằng ngôn ngữ vốn có của thời kì nhất định của sự phát triển văn học nghệ thuật” [3, Pacpêlôp cũng khẳng định thành phần của phong cách gồm có ngôn ngữ, cốt truyện, những chi tiết biểu hiện. Ngôn ngữ là sự thể hiện cảm xúc rõ ràng nhất của phong cách. Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu Ya. Elxberg cho rằng “Phong cách trước hết bao trùm ngôn ngữ của tác phẩm, tức là ngôn ngữ nghệ thuật, thể loại, bố cục, nhịp điệu, thanh điệu, ngữ điệu, vần điệu. Nhưng đồng thời phong cách ảnh hưởng cả một số phạm trù của nội dung như tính cách, cốt truyện, tính hình tượng của tác phẩm nói chung” [3, Cụ thể hơn, V. Turin đã cụ thể hóa khái niệm phong cách học – “đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” [3, Là một ngành khoa học đứng giữa ngôn ngữ và văn chương nên đôi khi việc xác định nội hàm khái niệm phong cách học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhà nghiên cứu Đ. Likhachev đề nghị cần phân biệt rõ hai khái niệm phong cách “Phong cách như là hiện tượng ngôn ngữ văn học và phong cách như là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định” [3, Còn V. V. Vinogradov lại có cách phân chia phong cách học về văn học thành 2 loại Phong cách học thuộc ngôn ngữ học và phong cách học thuộc nghiên cứu văn học Bên cạnh đó, khái niệm phong cách học cũng thường bị hiểu đồng nhất với thi pháp học, mặc dù giữa hai lĩnh vực nghiên cứu có sự liên hệ, tác động qua lại nhưng không thể đồng nhất. Khác với các đồng nghiệp và những nhà khoa học đi Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 175 trước, xem thi pháp học là lí luận văn học, Khrapchenko xem thi pháp học là khoa học nghiên cứu hệ thống các nguyên tắc, phương thức, phương tiện mĩ học dùng để sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật. Ông cũng phản đối lối đồng nhất hoặc tách rời đơn giản phong cách học với thi pháp học mà cho rằng nên xem phong cách học như là một bộ phận của khoa thi pháp học rộng lớn. Nghiên cứu đặc điểm phong cách và nguyên tắc sáng tạo của nhà văn đều là nhiệm vụ của thi pháp học. Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu B. V. Gornung chủ trương phải phân giới dứt khoát thi pháp học với phong cách học. Ông viết “Phong cách là một tổng thể toàn vẹn những sự kiện biểu cảm khiến cho lời phát ngôn có một sắc thái ý nghĩa trọn vẹn, bất chấp cấu trúc ngữ nghĩa cơ bản của phát ngôn ấy. Cần coi những sự kiện biểu cảm này là những sự kiện phong cách sẽ được nghiên cứu không phải trong thi pháp học và từ chương học mà là trong một bộ môn ngữ văn đặc biệt” [3, Để phân biệt thi pháp học và phong cách học cũng như mối tương quan giữa chúng, những ý kiến của rất đáng được quan tâm vì giàu sức thuyết phục khi ông cho rằng “Thi pháp học như là khoa học về các hình thức, các phương tiện và phương thức tổ chức của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học; như là một khoa học có xu hướng bao quát không chỉ các hiện tượng ngôn từ thi ca mà còn cả những phương diện rất đa dạng của các tác phẩm văn học thành văn và phong cách của sáng tác ngôn từ dân gian. Còn phong cách học nghiên cứu sự phát triển của các phong cách cá nhân, chiếm vị trí trung tâm trong phong cách học văn học là những quan sát và nghiên cứu trong lĩnh vực các quy luật hình thành và phát triển của các hệ thống biểu hiện ngôn từ nghệ thuật - đây là những hệ thống có tính chất cá nhân hoặc được cá thể hóa, tức là được hình thành như những cấu trúc cố định và hoàn chỉnh - cả trong lịch sử từng nền văn học dân tộc nói riêng, cả trong lịch sử chung của văn học thế giới phong cách tác phẩm văn học, phong cách nhà văn, phong cách trường phái văn học” [3, Nghiên cứu, xem xét phong cách học ở bình diện cấu trúc, đối tượng nghiên cứu, cũng như những yếu tố tác động làm nên phong cách của nhà văn, đã nhận được nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau của các nhà lí luận, phê bình. khi nhận định về phong cách của tác phẩm văn học đã nhấn mạnh sự thống nhất của các yếu tố nội dung và những yếu tố tạo hình thức của phong cách. “Phong cách nghệ thuật của nhà văn là sự biểu hiện thế giới quan của anh ta, thế giới quan đó được thể hiện trong những hình tượng bằng các phương tiện ngôn ngữ. Bởi vậy không thể nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà văn trong tính mục đích chức năng của nó mà tách rời nội dung tư tưởng - hình tượng của tác phẩm. Đồng thời, phong cách của tác phẩm văn học không phải là tu từ học đề tài, hình tượng, bố cục của tác phẩm văn học, nội dung nghệ thuật của nó nội dung này được thể hiện bằng những Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 176 phương tiện ngôn ngữ nhưng không giới hạn ở từ ngữ cũng là những yếu tố quan trọng của của phong cách, và có thể khá quan trọng, bởi vì chúng xác định cả những nguyên tắc nghệ thuật của việc lựa chọn chất liệu từ ngữ, tức là tu từ học hiểu theo nghĩa hẹp của từ đó” [3, Còn L. Nôvichenkô thì cho rằng phong cách nghệ thuật gắn liền với cá tính sáng tạo và bị chi phối bởi những tác động của thời đại, cộng đồng. “Phong cách học hiểu theo nghĩa chung nhất là vẻ đặc thù trong những tác phẩm của nhà văn hoặc của một nhóm nhà văn, vẻ đặc thù này được quy định bởi những quan điểm chung về cuộc sống và thể hiện trong những đặc điểm có tính chất đặc trưng về nội dung và hình thức của những tác phẩm ấy” [3, Ở góc độ khái quát, Ya. Elxberg cho rằng “Phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan nhà văn và của phương pháp của ta vốn thống nhất với thế giới quan. Phong cách được hình thành từ tất cả những yếu tố ấy, nảy sinh từ chúng mà ra. Phong cách - đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó.” [3, Với nhà lí luận, phê bình Khrapchenko - người đã dành nhiều thời gian công sức nghiên cứu về phong cách học thì cho rằng “Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và những hình tượng ấy trở nên hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả. Và điều đó có nghĩa là nhà văn đã tạo được phong cách của mình. Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng đối với cuộc sống, như phương thức thuyết phục và thu hút độc giả” [3, Bàn về những yếu tố làm nên phong cách của nhà văn, Khrapchenko còn cho rằng yếu tố tư liệu và cách xử lí tư liệu cũng giữ vai trò quan trọng. “Phong cách không chỉ được hình thành dưới tác động của đối tượng sáng tác, của tư liệu hiện thực mà còn tích cực tổ chức nên tư liệu đó... Đặc điểm của người nghệ sĩ điêu luyện là biết sắp xếp tổ chức tư liệu, biết tách cái chủ yếu ra khỏi cái ngẫu nhiên, biết khắc phục sự chống đối của tư liệu. Cùng với tư tưởng chung, phong cách cũng có sứ mệnh kết hợp lại lại một chỉnh thể năng động những yếu tố không thuần nhất có trong tư liệu của cuộc sống, trong đối tượng sáng tác” [3, Có thể khẳng định rằng, mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng phong cách học chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học nghiên cứu văn học vào thế kỉ XIX. Và với sự nỗ lực tìm kiếm, định hình một dòng, một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới, các nhà lí luận phê bình đã tạo được một cơ sở lí luận cho phong cách học. Tuy vẫn còn nhiều những ý kiến Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 177 chưa thống nhất trong việc xác định nội hàm, phương pháp, đối tượng nghiên cứu..., nhưng những phát biểu có tính chất khoa học và sự vận dụng có hiệu quả của phong cách học đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống văn học ở các nước trên thế giới. 4. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phong cách học ở Việt Nam Sau một thời gian dài kể từ khi Việt Nam mở cửa, tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây những năm đầu thế kỉ XX, thuật ngữ phong cách học mới được đề cập và xuất hiện lần đầu tiên trong công trình nghiên cứu Thơ Hồ Xuân Hương Nxb Văn học, 1968 của Nguyễn Lộc. Trong công trình này, thuật ngữ phong cách trong phê bình văn học được nêu ra khi nhà nghiên cứu nhận thấy tiêu chí phân biệt thơ Hồ Xuân Hương đích thực và lộn sòng theo “mức độ và tính chất dâm tục” của nhà phê bình Trần Thanh Mại là không thỏa đáng, và ông đề nghị cần phải phân biệt theo phong cách. Tiếp đó trong bài viết “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kì lịch sử văn học Việt Nam” của Đỗ Đức Hiểu in trên Tạp chí Văn học số 3 năm 1985, ông đã đề xuất tiêu chí phân kì các giai đoạn lịch sử văn học cần phải căn cứ vào sự xuất hiện của các tài năng văn học, các nhà nhà văn lớn. Thông qua các tác phẩm có giá trị thời đại sẽ quyết định và chi phối đến đặc trưng và sự vận động, phát triển của cả một giai đoạn, thời kì văn học. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn vừa mang những đặc trưng, dấu ấn cá nhân riêng nhưng đồng thời cũng phản ánh những nét phổ quát của thời đại mình đang sống. Nét nổi bật đó tạo ra những phong cách lớn, tiêu biểu. Vì thế, khi phân chia các giai đoạn, thời kì văn học cần phải quan tâm theo những phong cách lớn. Còn Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách in lần đầu năm 1979, Nxb Tác phẩm mới cho rằng phong cách gắn liền với với cá tính sáng tạo của nhà văn, bởi “văn chương là một hình thái ý thức xã hội có đặc trưng riêng. Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” [5, Kế thừa tư tưởng, quan điểm của “Phong cách học chính là nghiên cứu sự phát triển của các phong cách cá nhân”, Nguyễn Đăng Mạnh đã triển khai, bổ sung khi cho ông cho rằng Đánh giá một nhà văn phải căn cứ vào ba tiêu chuẩn chính tư tưởng, tâm hồn lớn và có đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, vì “nghiên cứu một nhà văn xét đến cùng là nghiên cứu tư tưởng của ông ta” [5, Ở một khía cạnh khác, nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn trong công trình Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục Nxb Giáo dục, 1995 khi lí giải cơ sở để nữ sĩ Hồ Xuân Hương lựa chọn thể thơ Nôm truyền tụng đã viện dẫn đến phong cách Lưu hương kí... Nhưng phong cách ấy cụ thể như thế nào thì vẫn chưa được lí giải thấu đáo. Nhìn chung trong các công trình nghiên cứu chuyên biệt, các tác giả mới gọi tên của khuynh hướng phê bình mà chưa đưa ra được cơ sở lí luận cụ thể của phong cách học. Đôi khi còn bị nhầm lẫn Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 178 giữa phong cách tác giả và phong cách tác phẩm. Phải đến khi biên soạn các cuốn Từ điển, các nhà nghiên cứu đã đưa thuật ngữ phong cách học để định danh và khẳng định đó là một lĩnh vực khoa học quan trọng trong nghiên cứu, phẩm bình văn chương. Cuốn 150 thuật ngữ văn học khẳng định “Những đặc điểm phong cách dường như hiện diện ở bề mặt tác phẩm, như là một sự thống nhất hiển thị và cảm giác được của tất cả các yếu tố chủ yếu thuộc hình thức nghệ thuật. Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc tác phẩm, khiến tác phẩm có tính chỉnh thể, có giọng điệu và màu sắc thống nhất rõ rệt” [1, Tiếp cận, tìm hiểu vấn đề phong cách học từ bình diện lí thuyết qua việc tham khảo các quan niệm, định nghĩa của các nhà nghiên cứu nước ngoài, Tôn Thảo Miên trong các bài viết “Về khái niệm phong cách cá nhân của nhà văn” Tạp chí Văn học số 1/1997, “Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách” Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 5/2006 cũng đã hệ thống lại một cách khái quát các vấn đề thuộc phạm trù nghiên cứu của phong cách học, như phong cách thời đại, cá tính sáng tạo của nhà văn, thế giới quan và tài năng, vấn đề bút pháp, vấn đề ngôn ngữ... Và cuối cùng tác giả đưa ra kết luận “Nhưng tựu trung lại, phong cách được hiểu là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và hình thức, nó tạo nên nét riêng độc đáo của mỗi tác phẩm, đồng thời cũng là nét riêng để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác” [6, Từ những vấn đề lí luận về phong cách, đặc biệt nhờ vận dụng lí thuyết ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure, tác giả Phan Ngọc trong công trình khoa học Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều viết xong năm 1965, in lần đầu năm 1985, Nxb Khoa học Xã hội đã trở thành người đầu tiên thực hành phê bình theo phong cách học ở Việt Nam. Trong lời nói đầu cuốn sách, ông đã đề cập thực trạng nghiên cứu theo phong cách học “Phong cách học, bộ môn của ngôn ngữ học để nghiên cứu phong cách còn gặp rất nhiều khó khăn. Các khái niệm làm cơ sở cho nó như phong cách, phong cách thể hoại, phong cách thời đại, phong cách tác giả, vẫn chưa được xác định một cách nhất quán. Phong cách học chưa xây dựng được cho mình một hệ thống thao tác có hiệu lực để khảo sát phong cách tác giả một cách khách quan Phong cách học đang thiếu một lí luận nhất quán để có thể khẳng định nó như là một khoa học thực sự” [8, Trước những khoảng trống về lí luận phong cách học, tác giả đã bước đầu đưa ra được những quan điểm và cách tiếp cận đối tượng một cách thuyết phục. Theo ông muốn nghiên cứu phong cách của một tác giả, người nghiên cứu cần phải - “Xây dựng lại các khái niệm của môn phong cách học; - Phải tìm ra được những đặc điểm tiêu biểu của tác giả đó về mặt nội dung không lặp lại ở người khác; - Tiếp cận tác phẩm một cách hình thức và chứng minh chính hình thức tác giả lựa chọn là thích hợp để diễn đạt nội Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 179 dung này.” [8, Cũng theo Phan Ngọc, “một nghệ sĩ chỉ vĩ đại khi anh ta có những đóng góp đặc biệt mà trong thời đại mình không ai làm được. Không những thế, những đóng góp của anh ta còn vượt xa ngoài thời đại, đến nỗi thời đại sau có thể bắt chước được, mà khó có thể vượt qua”, hay “chỉ nói lên được sự cống hiến nghệ thuật riêng của từng nhà văn, lịch sử văn học mới có sự phát triển thực sự văn học, chứ không phải là lịch sử của những con người làm văn học” [8, Sau khi xác định những thao tác nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một định nghĩa về phong cách học “Phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy” [8, Từ những lí thuyết đó, ông đi sâu vào tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, thực hiện một loạt đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra những cái mới, những sáng tạo của thi hào Nguyễn Du trong kiến trúc câu thơ, trong ngôn ngữ, trong ngữ pháp. Tiếp sau cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Phan Ngọc tiếp tục ứng dụng những khái niệm, thao tác của phong cách học để tìm hiểu, lí giải các hiện tượng độc đáo của đời sống văn học. Trong cuốn Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học Nxb Thanh niên, 2000, ông cũng đã có những kiến giải, phát hiện thú vị khi phân tích những chuyển biến của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Tiếp cận tác giả, tác phẩm qua phê bình phong cách học đã giúp Phan Ngọc đạt được nhiều thành công, tạo ra một hướng nghiên cứu mới đầy triển vọng. Nhưng theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy thì “Định nghĩa phong cách là sự lựa chọn của Phan Ngọc thật chặt mà cũng thật lỏng. Chặt, khi nhà phê bình xuất phát từ sự lựa chọn ngôn từ của tác giả đi đến sự lựa chọn thể loại, cốt truyện, chủ đề tư tưởng. Lỏng, khi người ta đi ngược lại hành trình này” [12, Là người theo đuổi và có nhiều công trình nghiên cứu về các khuynh hướng phê bình, xuất phát từ ý tưởng của Léo Spitzer 1887-1960 - nhà ngữ văn học, phong cách học người Đức, Đỗ Lai Thúy cho rằng Phong cách là sự lệch chuẩn. Nghĩa là mỗi thời đại văn hóa tạo ra một phong cách của mình, và mỗi nhà văn sống trong thời đại đó lại có phong cách riêng. Phong cách của họ chính là sự lệch so với cái chuẩn của thời đại. Từ những ý tưởng đó, trong chuyên luận Con mắt thơ Nxb Lao động, 1992, nhà nghiên cứu đã dựng nên chân dung sinh động của các nhà Thơ mới với những cá tính, phong cách riêng độc đáo làm nên cả một thời đại trong thi ca. Ông viết “mỗi nhà Thơ mới trước hết đều phải đạt đến phong cách thời đại để rồi chống lại nó thì mới tạo ra được phong cách riêng của mình. Sự chống lại càng quyết liệt bao nhiêu thì sáng tạo cá nhân, tức phong cách riêng càng nổi bật bấy nhiêu” [12, Tiếp sau đó, trong công trình Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực Nxb Văn hóa Thông tin, 1999, ông đã khắc phục được những hạn chế trong nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước khi nhiều người còn quá lệ thuộc vào công Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 180 thức nổi tiếng của Buffon “Phong cách chính là con người” nên đã lẫn lộn phong cách tác giả và tác phẩm. Đỗ Lai Thúy đã tiếp cận vấn đề từ một hướng nghiên cứu mới đó là đi tìm sự lệch chuẩn ngôn ngữ để thấy được phong cách thơ Xuân Hương là một sự lệch chuẩn hoàn toàn so với phong cách Thanh Quan nói riêng và toàn bộ phong cách Đường thi nói chung... Song song với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 1986, nền văn học nghệ thuật nước nhà cũng có nhiều bước đột phá, phát triển. Việc biên dịch, giới thiệu những lí thuyết, khuynh hướng mới trong lí luận phê bình trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Nghiên cứu, phê bình văn học theo phong cách học ngày càng được ứng dụng rộng rãi và phát huy được hiệu quả to lớn trong đời sống văn học. Điều đó được minh chứng trong các công trình nghiên cứu về phong cách học, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ như Văn chương tài năng và phong cách Hà Minh Đức; Nhà văn tư tưởng và phong cách Nguyễn Đăng Mạnh; Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo Trần Đăng Suyền; Văn chương và tác giả, Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Thiện; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu Tôn Phương Lan, Lí luận và phê bình văn học Trần Đình Sử, Thi pháp hiện đại Đỗ Đức Hiểu Sự gia tăng, phát triển về số lượng các công trình khoa học có ứng dụng những thao tác, phương pháp của phong cách học, một mặt phản ánh ưu thế, triển vọng và tác dụng lớn của phong cách học trong việc đánh giá, thẩm bình các hiện tượng văn chương, mặt khác cũng phản ánh những nỗ lực của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng một khung lí thuyết, lí luận cho ngành phong cách còn nhiều khoảng trống. Nhìn vào tên nhan đề, danh mục cũng như nội dung của từng chương, bài trong các công trình nghiên cứu trên, người đọc dễ dàng nhận thấy chưa có một công trình, một cuốn sách riêng bàn về phong cách học. Điều đó phản ánh một hạn chế trong nghiên cứu, phê bình theo phong cách học khi những tiêu chí định danh và những thao tác nghiên cứu vẫn chưa được tạo dựng một cách chặt chẽ, bài bản. 5. Kết luận Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi đánh giá về tình hình phê bình văn học theo phong cách học ở nước ta đã có lí khi cho rằng “Phê bình phong cách một tác phẩm hoặc một nhà văn chỉ bằng một vài nhận xét thì đã có nhiều. Nhưng phê bình phong cách học thì hãy còn là một con đường đang được khai phá. Và đi trên con đường này, lữ khách không chỉ bỏ lại đằng sau những các trang bị cũ, mà còn phải học hỏi và sử những công cụ mới. Đặc biệt là những thay đổi quan niệm về tác phẩm văn chương, về ngôn ngữ văn chương, về phong cách tác phẩm, tác giả và thời đại. Và, quan trọng hơn sau khi đã mô tả được phong cách như thế nào thì phải lí giải tại sao lại có phong cách ấy từ cái nhìn nghệ thuật và cái nhìn thế giới của nhà văn” [12, Phải chăng đó cũng là nỗi băn Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 181 khoăn chung và là nhiệm vụ lớn lao cao cả đang đặt ra cho các nhà lí luận phê bình có trách nhiệm, tài năng, tâm huyết trong việc xây dựng một bộ môn phê bình phong cách học để đáp ứng tốt những yêu cầu, đòi hỏi của đời sống văn học dân tộc hôm nay? TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lại Nguyên Ân biên soạn 2004, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2. Đỗ Đức Hiểu 1985, “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử văn học”, Tạp chí Văn học, 3, 3. M. B. Khrapchenko 2002, Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, nhiều người dịch, Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 4. Nguyễn Lộc 1968, Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học. 5. Nguyễn Đăng Mạnh 2001, Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 6. Tôn Thảo Miên 2006, “Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 5, 7. Tôn Thảo Miên 1997, “Về khái niệm phong cách cá nhân của nhà văn”, Tạp chí Văn học, 1, 8. Phan Ngọc 2003, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Thanh niên. 9. Phan Ngọc 2000, Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb Thanh niên. 10. Đỗ Lai Thúy 1992, Con mắt thơ, Nxb Lao động. 11. Đỗ Lai Thúy 1999, Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực Nxb Văn hóa Thông tin. 12. Đỗ Lai Thúy 2011, Phê bình văn học con vật lưỡng thê ấy Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam một cái nhìn lịch sử, Nxb Hội Nhà văn và công ti Nhã Nam. 13. Đào Thái Tôn 1995, Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục, Nxb Giáo dục. Ngày Tòa soạn nhận được bài 12-6-2014; ngày phản biện đánh giá 27-6-2014; ngày chấp nhận đăng 23-10-2014 Các file đính kèm theo tài liệu này Phê bình văn học với tư cách là một bộ môn của khoa học văn học xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX ở châu Âu đến nay đã trải qua nhiều chặng đường. Người ta có thể tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình mà trình bày diễn trình này theo những cách thức khác nhau. Đỗ Lai Thúy 5 Phê bình văn học với tư cách là một bộ môn của khoa học văn học xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX ở châu Âu đến nay đã trải qua nhiều chặng đường. Người ta có thể tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình mà trình bày diễn trình này theo những cách thức khác nhau. Trước đây, trong bài viết Hành trình tư tưởng văn học phương Tây[16], tôi đã trình bày sự vận động của nó theo sơ đồ con lắc một xu hướng hoặc một trường phái nào đó của phê bình văn học chuyển động hết mình về phía A thì ngoài những ưu điểm nó cũng bộc lộ những nhược điểm. Và để khắc phục những nhược điểm này, nó lại chuyển động hết mình về phía B, phía đối lập. Ở phía B, ngoài những ưu điểm, nó lại bộc lộ những nhược điểm khác. Và để khắc phục những nhược điểm mới này, nó lại lao mình về phía A... Và cứ mỗi lần tìm cách khắc phục nhược điểm như thế, phê bình văn học lại tiến lên phía trước, không phải theo đường thẳng mà theo hình chữ chi. Ở công trình này, tôi trình bày theo một sơ đồ khác để, một phần, phù hợp với thực tiễn của tư tưởng phê bình văn học châu Âu từ thế kỷ XIX đến nay, phần khác, nhằm trả lời cho câu hỏi khẩn thiết của phê bình văn học Việt Nam trong thế kỷ qua, đặc biệt là của hiện trạng của phê bình hiện nay đó là việc đi tìm một phương pháp phê bình văn học tốt nhất, như là một thứ “động cơ vĩnh cửu”. Ở đây, xin mở ngoặc, tôi lấy thực tiễn của phê bình văn học châu Âu làm khung đối sánh không phải vì theo Âu tâm luận, mà vì phê bình văn học châu Âu phát triển đầy đủ và điển hình nhất và, do đó, có tính thế giới nhất. Hơn nữa, sự đi trước của châu Âu cho ta một khoảng cách để xem cho “biết người biết ta”. Bởi, tôi nghĩ, dù các văn hóa tộc người và các khu vực địa - văn hóa có khác nhau đến đâu đi nữa thì cũng vẫn vận động theo một quy luật cơ bản thống nhất, quy luật của cái đẹp. Tư tưởng phê bình văn học được thể hiện ở các lý thuyết và phương pháp phê bình, cụ thể hơn ở các cách tiếp cận tác phẩm. Phê bình văn học, theo tôi, cho đến nay đã trải qua ba hướng tiếp cận tác phẩm 1 đến với tác phẩm từ tác giả, 2 từ chính tác phẩm và, cuối cùng, 3 từ độc giả. Quả thật, thực tiễn phê bình văn học thế giới đã trả qua những bước đường này theo trình tự nhận thức tác giả –> tác phẩm –> độc giả. Hơn nữa, sơ đồ này rất phù hợp với lý thuyết thông tin trong việc triển khai cái tam giác trên thành tuyến tính người phát –> thông điệp –> người nhận tác giả tác phẩm độc giả Con đường tiếp cận tác phẩm từ tác giả hiện nay chúng ta thấy nó hết sức tự nhiên, như cha nào con ấy, rau nào sâu ấy, nhưng thực ra để trở thành một đường đi không dễ dàng chút nào. Ở châu Âu, từ thời Hy Lạp cổ đại cổ điển đến trước Thời đại Mới, trước khi phương pháp tiểu sử học ra đời, là sự thống trị của triết học, mỹ học và tư tưởng văn học của Aristote 322 - 184 Ông này cho rằng nghệ thuật là sự mô phỏng, trước hết mô phỏng tự nhiên, sau đó mô phỏng các tác phẩm mẫu mực. Ví như, có thể chọn những vở bi kịch thể loại cao quý và tiêu biểu cho văn học cổ và trung đại hay nhất, tức có tác dụng thanh lọc catharsis cảm xúc của công chúng nhất, rút ra những quy tắc sáng tác, rồi căn cứ vào những quy tắc ấy mà làm ra những vở bi kịch hay khác. Như vậy, người nghệ sĩ không sáng tạo theo cảm hứng cá nhân, mà tuân thủ theo các quy tắc có sẵn. Có thể nói, anh ta không sáng tạo ra vật thể, dù là vật thể tinh thần, mà vật thể tự xuất hiện qua các thao tác của anh ta. Thế là Thi pháp học quy phạm của Aristote đã vô hình trung biến nghệ thuật thành thủ công, người nghệ sĩ thành anh thợ thủ công. Thời đại Mới bắt đầu với sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân. Mỹ học Lãng mạn đề cao vai trò của tác giả như là chủ thể sáng tạo. Và quan hệ tác giả - tác phẩm là quan hệ nhân quả. Phương pháp tiểu sử học ra đời với nhà thơ, nhà phê bình văn học người Pháp Sainte-Beuve[17]. Một sự kết hợp độc đáo nguyên tắc tính chủ quan và tính lịch sử của quá trình văn hóa kết gắn với học thuyết khai sáng về “bản chất tâm lý không thay đổi của con người”. Cá nhân con người cụ thể là kẻ sáng tạo ra văn chương. Tác phẩm văn chương là con đẻ của tác giả, nên theo quy luật “giỏ nhà ai quai nhà ấy” thì nó phải in đậm dấu ấn của người làm ra nó như khí chất, tính tình, thiên hướng, giáo dục... Bởi vậy, đến tác phẩm từ tác giả là đến với cái chưa biết từ cái đã biết theo con đường loại suy. Tuy nhiên, con người không phải là nhất sinh bất biến, mà còn là sản phẩm của những môi trường văn hóa lịch sử nhất định. Vì thế mà có thể mở rộng việc nghiên cứu tác giả sang cái hoàn cảnh đã sản sinh ra tác giả. Trường phái văn hóa - lịch sử của [18] đưa ra ba nguyên lý cần phải áp dụng vào nghiên cứu con người nhà văn là chủng tộc, địa điểm và thời điểm. Nếu trong cái hoàn cảnh sản sinh ra tác giả ấy, người ta đặc biệt chú ý đến những nhân tố kinh tế xã hội, coi kinh tế là nguyên nhân của mọi nguyên nhân và động lực của sự phát triển xã hội thì đó là phương pháp xã hội học, trong đó có một hình thức triệt để hơn cả là phương pháp xã hội học mác xít. Phương pháp Xã hội học từ khi ra đời đến nay không ngừng làm phong phú bản thân mình bằng việc thu nhận những thành tựu của các ngành khoa học khác như cấu trúc luận, ký hiệu học. Đặc biệt là xã hội học văn học độc đáo ở chỗ đặt vấn đề nghiên cứu xã hội trước tác phẩm, xã hội trong tác phẩm và xã hội sau tác phẩm tức lý thuyết tiếp nhận. Phương pháp tiểu sử học, trường phái văn hóa lịch sử và các phương pháp xã hội học đều nghiên cứu tác giả với tư cách là con người xã hội. Nhưng tác phẩm văn học không chỉ có phần có chủ ý, tức ý đồ tác giả, như là sản phẩm của con người hữu thức, mà còn có cả phần không chủ ý, phần chìm của tảng băng trôi, sản phẩm của con người vô thức. Bởi thế, khi nghiên cứu tác giả, nếu Sainte - Beuve xuất phát từ tuổi trưởng thành, thì các nhà phê bình phân tâm học xuất phát từ tuổi ấu thơ. Phương pháp phân tâm học nghiên cứu những xung năng vô thức như là những ngọn nguồn sáng tạo ở tác giả. Nếu phân tâm học của S. Freud chủ yếu nghiên cứu cái vô thức ở con người cá nhân nhà văn thì phân tâm học của Jung, với lý thuyết về siêu mẫu, chú trọng đến vô thức tập thể, và đặc biệt là J. Lacan[19] với định đề nổi tiếng “vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” lại thiên về cái vô thức ở văn bản tác phẩm. Từ đây xuất hiện phân tâm học văn bản. Nhà phê bình phân tâm học có thể không cần biết đến tác giả mà vẫn phân tích được tác phẩm. Nhờ có phân tâm học văn bản mà người ta có thể nghiên cứu được truyện cổ tích vốn không có tác giả, hoặc thơ Hồ Xuân Hương bất chấp tác giả này chưa có một tiểu sử xác định. Bởi vậy, phương pháp phân tâm học là một trong những cái cầu nối trên con đường tiếp cận tác phẩm từ tác giả sang tiếp cận tác phẩm từ tác phẩm. Trước khi từ giã những cách tiếp cận thứ nhất, “từ tác giả”, tôi muốn nói rằng, mặc dù có rất nhiều ưu việt, nhưng các phương pháp phê bình ngoại quan này nhiều khi rơi vào một nghịch lý đáng buồn là lẽ ra qua tác giả để tìm hiểu tác phẩm, thì, ngược lại, do quá chú mục vào tác giả, nên đã coi tác phẩm chỉ như một thứ tài liệu để hiểu con người nhà văn, trình độ văn hóa lịch sử và cái trạng thái kinh tế - xã hội thời nhà văn sống. Một cầu nối khác là phương pháp thi pháp học. Như đã biết, thi pháp học có từ thời Aristote, rất chú trọng đến tác phẩm, nhưng đó là thi pháp học quy phạm, cổ điển. Một thứ thi pháp học dạy người ta “chế tác” ra những tác phẩm đúng và hay. Vào đầu thế kỉ XX, sự phát triển của triết học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là ngữ học, đã có ảnh hưởng lớn đến phê bình văn học. Thi pháp học hiện đại hình thành, không chủ trương dạy nhà văn phải viết như thế nào, mà nghiên cứu tác phẩm bằng con đường mô tả khoa học và về sau quan niệm về mô tả ngả đều theo tinh thần hiện tượng học. Trên cơ sở này, chủ nghĩa hình thức Nga[20] ra đời như là sự chống lại một bên quan niệm nghệ thuật như là nhận thức của Potebnia trong lý luận và bên kia chủ nghĩa tượng trưng Nga trong sáng tác. Shklovski, chủ soái của trường phái này, và các đồng chí tài năng của ông coi trọng hình thức, vì hình thức chính là nghệ thuật, còn nghệ thuật thì như là thủ pháp. Chủ nghĩa hình thức Nga đã có nhiều đóng góp như việc xác định tính tự trị của tác phẩm văn học, coi đối tượng của phê bình văn học là tính văn học R. Jakobson, cái làm cho một tác phẩm trở thành tác phẩm văn học, đề ra khái niệm vật liệu đối lập với hình thức, miêu tả được các hệ thống cốt truyện Eikhenbaum, chủ đề Tomashevski, thủ pháp Shklovski và sự tiến triển của văn chương Tynianov... Như vậy, chủ nghĩa hình thức Nga không chỉ làm mới lại thi pháp học của Aristote, biến nó từ quy phạm, giáo điều thành miêu tả, khoa học, tức từ cổ điển thành hiện đại, mở ra một thời đại mới trong phê bình văn học với những cách tân hết sức cơ bản và độc đáo. Hầu hết những trường phái sau này ở châu Âu và Bắc Mỹ đều tìm thấy xuất phát điểm của mình ở chủ nghĩa hình thức Nga, như chủ nghĩa cấu trúc ở tư tưởng cấu trúc của Tynianov, phân tích truyện kể ở Tomachevski, Shklovski... Phải nói rằng, ngôn ngữ của tác phẩm văn học đã được chú trọng từ chủ nghĩa hình thức Nga phân biệt ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ thường nhật, phân biệt phương diện tồn tại vật liệu và tồn tại thẩm mỹ của ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ chỉ thực sự trở thành “nhân vật chính” trong chủ nghĩa cấu trúc, ký hiệu học, phong cách học... là những khoa học lấy ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure[21]1857-1913 làm cơ sở. Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, nhà ngữ học Thụy Sĩ này đã thực hiện một loạt những lưỡng phân. Trước hết, ông phân biệt lời nói parole với ngôn ngữ langue và cho rằng chỉ ngôn ngữ mới là đối tượng của ngữ học. Ngôn ngữ là mã code của lời nói, bởi thế ngôn ngữ có tính xã hội, là chung của mọi người, còn lời nói mang tính cá nhân, của riêng mỗi người. Và để nghiên cứu ngôn ngữ, phải nghiên cứu đồng đại, vì chỉ có trên cơ sở một nhát cắt đồng đại, tĩnh quan và khép kín, mới tìm ra được cấu trúc của ngôn ngữ. Vậy ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các yếu tố quy định lẫn nhau và chịu sự quy định chung của cả hệ thống. Giá trị của mỗi yếu tố, vì vậy, không phải ở bản thân nó, mà ở quan hệ của nó với các yếu tố khác trong hệ thống mang lại. Và giá trị của cả hệ thống bao giờ cũng lớn hơn tổng giá trị của từng yếu tố. Ở hệ thống ngôn ngữ, mỗi yếu tố là một ký hiệu, toàn bộ ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, một bộ phận tiêu biểu nhất và quan trọng nhất của ký hiệu học. Mỗi ký hiệu ngôn ngữ gồm có hai mặt mặt âm thanh và chữ viết gọi là cái biểu đạt signifiant, mặt khái niệm, ý nghĩa gọi là cái được biểu đạt signifié. Quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ là quan hệ võ đoán, có tính quy ước do cộng đồng ngôn ngữ quy định, nhưng lại gắn bó với nhau như hai mặt của một tờ giấy. Phương pháp nghiên cứu ngữ học nói trên của F. de Saussure đã trở thành phương pháp luận chung cho nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, thậm chí cả khoa học tự nhiên. Lấy ngữ học làm “khoa học hoa tiêu”, Roman Jakobson đã vận dụng vào nghiên cứu văn học, đặc biệt là thi pháp thơ, Lévi - Strauss[22] trong dân tộc học, Jacques Lacan trong phân tâm học, Michel Foucault trong lịch sử tư tưởng và tri thức luận... Từ những nghiên cứu cụ thể của từng lĩnh vực, các nhà khoa học, đặc biệt là Lévi-Strauss, đã khái quát lên thành những vấn đề lý luận và xây dựng thành chủ nghĩa cấu trúc vừa là một triết học vừa là một phương pháp luận khoa học. Nhưng dù phát triển đến như thế nào đi nữa thì chủ nghĩa cấu trúc không bao giờ xa rời được cái định hướng ngữ học của nó. Vì thế, nó càng thúc đẩy mạnh hơn sự phân tích cấu trúc văn bản trong việc nghiên cứu văn học. Cũng phát huy tính ký hiệu của ngôn ngữ, ký hiệu học, khoa học về các ký hiệu của ngôn ngữ văn học, đặc biệt phát triển vào những thập niên giữa thế kỉ XX. Một công trình có tính chất khởi đầu cho cả cấu trúc luận và ký hiệu học là Hình thái học truyện cổ tích của Vladimir Propp[23] in năm 1928 ở Nga. Tác phẩm này, một mặt, gợi ý nhiều cho một nhà ký hiệu học khác người Pháp, Greimas, ở công trình Ngữ nghĩa học cấu trúc 1966, mặt khác, cổ vũ cho một nhà ký hiệu học lớn khác của nước Nga và của thế giới là Iuri Lotman[24], với những tác phẩm Cấu trúc văn bản nghệ thuật 1970, Mỹ học và ký hiệu học điện ảnh 1973... Ngoài ra, trường phái Paris còn gắn với những tên tuổi lớn khác là Roland Barthes với Những cơ sở của ký hiệu học, Hệ thống mốt 1967, Vương quốc của ký hiệu 1970, là Julia Kristéva với nhóm Tel Quel... Một nhân vật sáng giá khác của ký hiệu học cũng cần phải được nhắc đến là Umberto Eco với các công trình như Tác phẩm mở 1962, Cấu trúc vắng mặt 1968. Ký hiệu học, cấu trúc luận, thi pháp học tuy có những định hướng nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, nhưng cũng có rất nhiều điểm tương đồng vì cùng lấy ngữ học cấu trúc làm cơ sở, cùng lấy việc nghiên cứu tác phẩm, đặc biệt là văn bản, làm trọng tâm. Văn bản có tính tự trị bởi sự tồn tại độc lập của ký hiệu, của các cấu trúc ngôn ngữ, của hình thức tác phẩm. Bởi thế, tác phẩm bao giờ cũng có một trung tâm, có nghĩa ổn định và khách quan vì sự khách quan của văn bản. Như vậy, phê bình văn học chỉ cần biết tới tác phẩm, mà không cần quan tâm tới tác giả và người đọc. Lối tiếp cận tác phẩm từ tác phẩm này một khi phát triển đến cực điểm thì chính độ viên mãn của nó lại làm bộc lộ những phiến diện mới. Và sự khắc phục những khiếm khuyết này một mặt là những điều chỉnh tự thân, mặt khác đáp ứng những nhu cầu mới của thời đại. Thời đại hậu công nghiệp, thời đại thông tin, thời hậu hiện đại. Điều này trước hết đã thúc đẩy chủ nghĩa cấu trúc phát triển thành hậu cấu trúc luận và giải cơ cấu với vẫn những nhân vật quen thuộc của chủ nghĩa cấu trúc như Roland Barthes, Michel Foucault, Jacques Derrida. Đồng thời sự hình thành các khoa học mới như minh giải học chú giải học hiện đại và mỹ học tiếp nhận với George Gadamer, Hans Robert Jauss và Wolfrang Iser đã làm xuất hiện nhân vật người đọc, như một đồng sáng tạo hoặc liên chủ thể. Và, từ đây xuất hiện một lối đi mới tiếp cận tác phẩm từ người đọc. Còn nữa Phần 1, 2, 3______________________Chú thích [16] Hành trình tư tưởng văn học phương Tây in trong cuốn Từ cái nhìn văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, 1999. [17] Sainte-Beuve 1804-1869, nhà thơ lãng mạn, nhà phê bình văn học Pháp. Tác phẩm chính Những chân dung văn học 1836-1839; Trò chuyện ngày thứ hai... [18] Taine H. 1828-1893, nhà triết học, nhà lịch sử và phê bình văn học Pháp. Thủ lĩnh của trường phái văn hóa - lịch sử. Tác phẩm chính Những nguồn gốc của nước Pháp đương đại 1875-1894, Luận về truyện ngụ ngôn của La Fontaine 1853, Lịch sử văn học Anh 1864, Triết học nghệ thuật 1865, Về trí tuệ 1870... [19] Lacan J. 1901-198.., nhà phân tâm học Pháp, mở ra một giai đoạn mới trong phân tâm học với chủ nghĩa cấu trúc. Ông khám phá ra “giai đoạn tấm gương” trong sự phát triển của trẻ em và Luật người cha và Luật biểu tượng. Định đề nổi tiếng của ông “vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” đã mở ra ngành phân tâm học văn bản. [20] Về Chủ nghĩa hình thức Nga và các thành viên của nó xin xem Nghệ thuật như là thủ pháp Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga, Đỗ Lai Thúy biên soạn và giới thiệu, Nxb Hội Nhà văn, 2001. [21] Ferdinand de Saussure 1857-1913, nhà ngữ học Thụy Sỉ, người sáng lập ra ngữ học cấu trúc và tạo ra cuộc cách mạng lần thứ nhất trong ngữ học. Saussure đã có ảnh hưởng đến toàn bộ khoa học xã hội và nhân văn thế kỷ XX. Tác phẩm duy nhất Giáo trình ngôn ngữ học đại cương do hai người học trò ghi lại từ bài giảng và xuất bản. [22] Lévi-Strauss 1908- , nhà nhân học Pháp, người sáng lập ra chủ nghĩa cấu trúc. Nhiều năm sống và nghiên cứu ở Brésil. Tác phẩm chính Nhiệt đới buồn 1955, Nhân học cấu trúc 1953, Tư duy man dã 1962, Huyền thoại học 1964-1971... Ông đã mang đến cho chủ nghĩa cấu trúc một kích thước nhân văn. [23] Propp V. 1895-1970, nhà ngữ văn học Nga, một trong những người đi đầu nghiên cứu cấu trúc văn bản nghiên cứu từ góc độ ký hiệu học. Đã dịch sang tiếng Việt Hình thái học truyện cổ tích 1928 và Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, Nxb Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật xuất bản, 2003. [24] Lotman Iu. 1922-1993, nhà ký hiệu học văn học và văn hóa Nga, giáo sư Đại học Tổng hợp Tartu thuộc Estonia. Nghiên cứu văn học trong quan hệ với tổng thể văn hóa. Tác phẩm chính Những bài giảng về thi pháp học cấu trúc 1964, Cấu trúc văn bản nghệ thuật 1973, Ký hiệu học điện ảnh và những vấn đề mỹ học điện ảnh 1973... Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990, trước hết, từ ảnh hưởng của cuốn Orientalism của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978 Phần tóm lược dưới đây chỉ nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm bản đồ’ của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay, chủ yếu để giúp bạn đọc dễ theo dõi các bài viết về lý thuyết và phê bình văn học đăng tải trên Tiền Vệ. Khi đọc, xin bạn đọc lưu ý cho một điểm không có một lý thuyết nào có thể được tóm lược một cách trung thành và trung thực, do đó, tấm bản đồ’ này chỉ nên được sử dụng như một cơ sở để tham khảo, từ đó, đọc thêm, hơn là để đánh giá các lý thuyết ấy. Với mục đích giới thiệu’, tôi chỉ chọn một số những lý thuyết chính và có ảnh hưởng nhất mà thôi. ó là Hình thức luận của Nga Formalism Phê Bình Mới của Anh và Mỹ New Criticism Cấu trúc luận Structuralism Hậu cấu trúc luận / Giải cấu trúc Poststructuralism/Deconstruction Các lý thuyết Mác-xít Marxist Theories Thuyết người đọc Reader Theory Phân tâm học Psychoanalysis Nữ quyền luận Feminism Thuyết lệch pha Queer Theory Chủ nghĩa hậu thực dân Postcolonialism Chủ nghĩa hậu hiện đại Postmodernism Chủ nghĩa tân duy sử New Historicism và Chủ nghĩa duy vật văn hoá Cultural Materialism Về tài liệu tham khảo, tôi chỉ ghi những tác phẩm chính, mới và dễ tìm nhất, chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nguyễn Hưng Quốc ___________________ CHỦ NGHĨA HẬU THỰC DÂN Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990, trước hết, từ ảnh hưởng của cuốn Orientalism của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978, trong đó, Said giải mã quan hệ quyền lực giữa phương ông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn, chủ yếu qua việc sáng tạo nên khái niệm phương ông’ như một “cái Khác” Other so với phương Tây. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành lý thuyết hậu thực dân chính là sự bất lực của các lý thuyết Tây phương trong việc lý giải tính chất phức tạp trong nền văn học các nước cựu thuộc địa. Hầu hết các lý thuyết về mỹ học, thể loại cũng như phong cách ở Tây phương trước đây đều được xây dựng trên tiền đề về tính phổ quát của văn học và triết học những gì đúng và hay ở nơi này thì cũng sẽ đúng và hay ở những nơi khác. Thực chất đó là một thứ chủ nghĩa độc tôn monocentrism về văn hoá và chính trị, kết quả của chủ nghĩa đế quốc và thực dân kéo dài nhiều thế kỷ trong lịch sử. Từ giữa thế kỷ 20, khi tất cả các thuộc địa dần dần đều được giải thực, người ta nhận thấy văn học từ các xứ cựu thuộc địa có cái gì không nằm hẳn trong các quy phạm vốn phổ biến ở Tây phương. Khám phá này trở thành tự giác và có sức thuyết phục mạnh mẽ với lý thuyết về một thứ chủ nghĩa phương ông của Edward W. Said lý thuyết hậu thực dân ra đời. Cũng như hầu hết các lý thuyết đã thành trường phái khác, lý thuyết hậu thực dân, thật ra, không phải là một cái gì thống nhất hoàn toàn. Tính chất thiếu thống nhất ấy thể hiện ngay trong cách viết một số người đề nghị dùng gạch nối ngăn giữa tiền tố hậu’ và từ thực dân’ post-colonialism như một dấu mốc thời gian nhấn mạnh vào quá trình giải thực ở các quốc gia cựu thuộc địa; một số khác – hiện nay đang là số đông – chủ trương viết liền, không có gạch nối postcolonialism để nhấn mạnh vào những hậu quả kéo dài đến tận ngày nay của chủ nghĩa thực dân. Ngoài sự khác biệt về thời gian, các lý thuyết gia cũng không đồng ý với nhau về không gian mà lý thuyết hậu thực dân bao trùm. Với một số học giả, cái gọi là văn học hậu thực dân chỉ giới hạn trong những tác phẩm được viết ra ở các quốc gia thuộc địa và trong thời gian thuộc địa; còn tác phẩm được các cây bút thực dân viết ra thì được xếp vào một phạm trù khác, mệnh danh là Diễn ngôn thực dân học’ Colonial Discourse Studies. Một số khác, đông hơn, quan niệm lý thuyết hậu thực dân bao trùm toàn bộ mọi nền văn hoá chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc từ thời bành trướng của thực dân cho đến tận ngày nay. Nghĩa là, không phải chỉ có nền văn hoá các nước thuộc địa mà cả văn hoá các quốc gia đi chinh phục và bóc lột các nước khác cũng nằm trong quỹ đạo của các ảnh hưởng ấy. Bởi vậy, trong phạm vi văn học, đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hậu thực dân gồm hai nhóm chính một, các nhà văn và nhà thơ thuộc các quốc gia thực dân khi họ tiếp cận với các đề tài liên quan đến thực dân và thuộc địa; và hai, quan trọng nhất, những cây bút sống trong các thuộc địa, trong đó, có một số thuộc địa được hình thành chủ yếu từ những người di dân đến từ mẫu quốc như Úc, Tân Tây Lan, Canada và, trong chừng mực nào đó, có thể kể cả Mỹ, còn lại, các thuộc địa gồm tuyệt đại đa số là dân bản xứ, tức thuần là dân bị trị, như hầu hết các quốc gia Phi châu, các quốc gia vùng Caribbean, vùng đảo Nam Thái Bình Dương, Pakistan, Scri Lanka, Malaysia, Singapore, Bangladesh… và, dĩ nhiên, Việt Nam. Với nhóm trên, các nhà phê bình thuộc thuyết hậu thực dân tìm cách phân tích quá trình bóp méo kinh nghiệm, hiện thực và lịch sử chinh phục và bóc lột của các nhà văn, nhà thơ thực dân. Với nhóm dưới, họ tìm cách nhận diện những nỗ lực viết lại lịch sử và tái tạo bản sắc của các dân tộc thuộc địa qua văn học. Vấn đề trung tâm của các nền văn hoá và văn học hậu thực dân là quan niệm về cái khác’ otherness. Cái khác’ khác với sự khác biệt difference vì cái khác’ bao gồm cả sự khác biệt lẫn bản sắc cái khác’, tự nó, là một bản sắc và bản sắc ấy được hình thành chủ yếu trên sự phân biệt với những bản sắc khác đang chiếm giữ vị trí trung tâm. Nó là một thứ con rơi vừa được sinh ra vừa bị từ bỏ. Nó được tạo lập từ bảng giá trị mà nó luôn luôn tìm cách phủ nhận nếu thực dân là trật tự, văn minh, duy lý, hùng mạnh, đẹp đẽ và tốt lành thì thuộc địa lại là hỗn loạn, mông muội, cảm tính, yếu ớt, xấu xí và xấu xa. Sự phủ nhận ấy được thực hiện ở thế yếu, do đó, không bao giờ thực sự triệt để. Tính chất phân vân ấy làm cho người thuộc địa không những là những cái khác’ so với thực dân mà còn là những cái khác’ so với chính quá khứ của họ. Bởi vậy, dân tộc thuộc địa nào cũng, một mặt, ngưỡng vọng quá khứ, mặt khác, họ lại thấy rất rõ trong quá khứ ấy có vô số khuyết điểm cần được khắc phục. Hậu quả là quá khứ chỉ được khôi phục từng mảnh; và với những mảnh vụn ấy, người ta không thể tái tạo được cả lịch sử người dân thuộc địa, do đó, có thể nói là có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử. Bên cạnh ý niệm về cái khác’ là tính chất đề kháng. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính chất đề kháng của các dân tộc thuộc địa là sự ra đời của chủ nghĩa quốc gia. Nằm ở trung tâm của chủ nghĩa quốc gia là ý niệm về bản sắc dân tộc. Trong nỗ lực xây dựng bản sắc dân tộc, các dân tộc thuộc địa thường loay hoay giữa sức đề kháng trước áp lực của văn hoá thực dân và những quyến rũ của tính hiện đại vốn gắn liền với nền văn hoá ấy, giữa hiện thực bản xứ và bảng giá trị xem chừng có tính sang cả và phổ quát ở Tây phương. Có thể xem thế áp đảo của các bảng giá trị này là một trong những chiến thắng lớn lao nhất của chủ nghĩa thực dân nó biến khái niệm Tây phương từ một thực thể địa lý thành một phạm trù tâm lý để với nó, người ta sẽ thấy phương Tây ở mọi nơi, thành cả thế giới văn minh, hơn nữa, thành mẫu mực của văn minh. Những tên tuổi tiêu biểu nhất của văn học hậu thực dân trên thế giới, về phương diện sáng tác, có Chinua Achebe, Marguerite Duras, Nadine Gordimer, Jamiaca Kincaid, V. S. Naipaul, Ngugi Wa Thiong’o, Michael Ondaatje, Salman Rushdie, Leopold Senghor, về phương diện lý thuyết, có Homi Bhabha, Frantz Fanon, Edward Said, Gayatri Chakravorty Spivak… và, đặc biệt, một người Việt Nam Trịnh Thị Minh Hà. Tài liệu tham khảo thêm Postcolonialism, a Very Short Introduction của Robert J. C. Young 2003, Oxford Oxford University Press; Postcolonial Theory A Critical Introduction của Leela Gandhi, St Leonards NSW, Australia Allen & Unwin; Culture and Imperialism của Edward W. Said 1993, London Vintage. Nguồn

các phương pháp phê bình văn học